Tại sao nên chọn tiếng Đức là ngoại ngữ tiếp theo? – Phần 1

Tiếng Anh thường là ngoại ngữ đầu tiên của chúng ta. Nhưng nếu bạn đã chinh phục được ngôn ngữ này kha khá, thì bạn sẽ chọn ngôn ngữ nào tiếp theo để học? Có người học tiếng Trung để … xem phim chưởng, có người học tiếng Hàn vì thích sự dễ thương… Nhưng nếu bạn muốn một thứ ngôn ngữ có thể thực sự thay đổi tư duy và con người mình, thì hãy chọn tiếng Đức!

Tại sao? Vì thứ nhất là tiếng Đức phức tạp (phần 1), và thứ hai là sự phức tạp này mới đủ khả năng độc đáo để chạm tới bộ não của người học (phần 2). Đầu tiên, hãy thử xem ”sự khủng” của tiếng Đức thế nào nhé:

Phần 1: Sự phức tạp của tiếng Đức

Bài viết mô tả tiếng Đức dưới góc nhìn của cá nhân tôi, mà như nhan đề đã mô tả, nó sẽ khá là … phức tạp.

Bài này có hai màu: Màu nâu đỏ dành cho người đã có trải nghiệm học tiếng Đức rồi. Màu đen dành cho những ai chưa từng học tiếng Đức (nên bỏ qua đọc những dòng màu nâu đỏ). Nếu thích hành hạ trí não một chút thì bạn hãy đọc tới những dòng cuối cùng. Nếu đang mệt thì đừng đọc bài viết này, để nhảy cóc sang phần 2 luôn (nhẹ nhàng và vui hơn nhiều).

Danh từ

Danh từ có giống (giới tính) là một đặc trưng của tiếng Đức. Nếu mới học tiếng Đức, các bạn sẽ thấy zui zui vì bố có giới tính đực, mẹ có giới tính cái, con cái thì chưa rõ giới tính thế nào nên gọi là giống trung (hay tôi gọi là không có giới tính) (maskulin – der Vater, feminin – die Mutter, neutral – das Kind). Nhưng mà bạn biết đấy, người Đức không thích kiểu vui bình thường cho lắm, họ thích sự hệ thống hơn. Vậy nên khi dùng từ trong câu, cách họ yêu cầu với các danh từ này biến hoá thần thông quảng đại tuỳ thuộc vị trí của danh từ:

  • Khi ông bố đứng ở vị trí chủ (ngữ) thì ổng là giống đực đàng hoàng là der. Nhưng nếu ai đó làm gì ổng, thì ổng chuyển thành den. Rồi lỡ mà ai đó đi cùng ổng ( mit) thì ổng biến thành dem. Và nếu ai đó trở thành của ổng thì hoá thành des. Ví dụ là cùng tả một ông chồng nhưng phải nói như sau: Der (ông chồng) rất hay nhậu nhẹt. Nên bà vợ mắng nhiếc den suốt ngày. Nên hôm sau có ông bạn rủ đi chơi cùng dem là ông đi luôn. Và người bạn đó sau này trở thành…chồng của des.
  • Bà mẹ bình thường là phụ nữ đàng hoàng là die, kể cả có ai chạm vào thì vẫn giữ mình là phụ nữ như vậy. Nhưng lỡ bà có đi cùng ai và người đó trở thành của bà thì bà biến thành đàn ông luôn (mit der Mutter).
  • Rồi nhỡ mà bạn muốn nhắc tới tất cả các ông bố bà mẹ và con cái (số nhiều) thì bạn phải biến họ thành phụ nữ hết (die). Những nếu họ muốn sở hữu gì đó thì họ phải trở thành đàn ông hết đã (der Väter, der Kinder, der Mütter).

Vậy đấy, ở đời phải biết mình là ai và như thế nào, đã và đang biến đổi ra sao.

Nhưng mà cô giáo của Mik nói rằng ”với bài thi thì các em không cần lo là có điền theo đúng các công thức trên hay không đâu”. Nghe đến đây chúng tôi hoan hỉ. Rồi cô nói thêm: ”vì phần lớn các em sẽ sai ngay ở phần nhớ đúng giới tính của tất cả các danh từ.” (!!!!!?????…….)

Đúng vậy đấy, trước khi biến đổi nó phải thuộc cái giống gốc gác của nó. Nhưng khi học thì người ta chỉ lấy ví dụ ông bố bà mẹ kia để minh hoạ cho giống đực cái vậy thôi. Còn thực tế thì nhìn một từ bạn khó mà biết nó là đàn ông hay đàn bà. Ví dụ như con gà trống là giống đực thì được, nhưng gà mái lại không có giới tính cơ! (das Huhn, der Hahn). Hoặc cô gái thì là giống trung- chả có giới tính đực cái gì, nhưng cái cửa lại là giống cái. Bầu trời, hạt mưa, cơn gió là nam (der Himmel, der Regen, der Wind), nhưng mặt đất, đám mây và mặt trời là nữ (die Erde, die Volke, die Sonne). Cây là đực, lá lại không có giới tính gì….. hiu hiu.

IMG_2486

————————-

Hệ thống động từ

Trong tiếng Việt mình, nếu muốn nói thì quá khứ thì chỉ cần ” tôi ĐÃ làm”. Tiếng Đức thì không thế nhé. Người Đức trước khi làm phải biết mình sẽ làm gì, giống như trước khi chia động từ phải quyết định xem mình sẽ nói hay mình sẽ viết nó ra? Vì hai dạng này của mỗi động từ hoàn toàn…chẳng liên quan gì đến nhau. Nhưng khoan, trước lúc nói và viết, giống như trước khi dùng cái gì cũng phải hiểu thật kỹ về nó, cần nhớ xem động từ đó là động từ mạnh hay yếu? Thuộc nhóm bất qui tắc hay không bất qui tắc? Bản chất bên trong động từ đó chuyển động hay không chuyển động? Hình thái bên ngoài thì nó thuộc nhóm tách được hay không tách được?

Tôi tự hỏi liệu còn có ngôn ngữ nào có thể mô tả chính xác sự phức tạp của cuộc sống loài người chúng ta hơn tiếng Đức? Kiểu như có khi nhìn tưởng là yêu mà hoá ra là ghét, tưởng là ghét mà lại là yêu, có những lúc vừa yêu vừa ghét, ghét muốn bỏ mà yêu cũng bỏ, bỏ rồi vẫn yêu mà không yêu lại không bỏ, nhưng bỏ rồi mới nhận ra vẫn yêu nhưng yêu tiếp thì sẽ bỏ…

Số nhiều của danh từ là tiêu biểu cho sự phức tạp này: Trong tiếng Đức, danh từ số nhiều đa phần biến đổi đuôi khác số ít, tuy nhiên có cái không có dạng số nhiều (die Sahne), mà cũng có cái không có dạng số ítPluraliatantum (Leute), nhưng đôi khi có cái lại vừa là số nhiều vừa là số ít (der Käse).

Động từ cũng loằng ngoằng tương tự: tiếng Đức có rất nhiều động từ yếu, nhưng có kha khá những động từ vừa yếu vừa bất qui tắc nên nó biến đổi trông giống động từ mạnh nhưng khi dùng thì chia như động từ yếu (như brennen, kennen, nennen, rennen, senden, wenden là động từ yếu bất qui tắc nhưng gehen, stehen là động từ mạnh…). Trong nhóm này, còn khó nhớ hơn cả vì có động từ lúc đầu không giống nhau, nhưng khi chia lại thành na ná y hệt nhau, chỉ khác cái đuôi. Ví dụ brechen và bringen rõ là khác nhau mà chia sang quá khứ trong văn viết lại đều là brach, nhưng vì bringen là động từ yếu nên nó thêm đuôi -te (brachte). Ngược lại, nhiều động từ trông giống nhau lúc đầu nhưng khi dùng lại khác nhau vì một cái tách được còn một cái không, như verkaufen và einkaufen. Để phong phú thì cũng thi thoảng có động từ lại thích vừa chuyển động được vừa mạnh, như brechen, fliegen, nhưng có động từ chuyển động được nhưng lại vừa yếu và bất qui tắc như rennen. Kinh dị hơn là có nhóm động từ chuyển động được nhưng thi thoảng lại vừa không chuyển động được. Hoặc cùng là nghĩa chỉ một hành động nhưng hai từ hơi giống nhau thuộc hai nhóm chuyển động và không: Ich bin eingeschlafen nhưng Ich habe geschlafen. Đồng thời, động từ cùng nghĩa mà một cái mạnh một cái yếu, như legen sẽ là haben gelegt, còn liegen sẽ là haben gelegen,  cả hai đều đề cập hành động nằm xuống.

Trong cuộc sống, có nhiều thứ trông thế này mà nhìn kỹ lại hoá thế khác.

Nếu bạn thấy câu Was passierte dann? thì bạn nghĩ nó thuộc thì gì? Ồ đuôi ”e” thì là dấu hiệu của thì hiện tại vì lúc nào cũng ”ich habe, ich lerne, ich mache”. Ở nhưng Was thì phải ngôi thứ ba nên có đuôi t chứ (man hat, man lernt, man macht). Thế là bạn phải nhớ ra là động từ ngôi thứ ba mà lại chia như động từ ngôi thứ nhất với kết thúc là te thì chỉ có ở thì quá khứ Präteritum. Đây là câu cơ bản trong tiếng Đức.

À lại nói chuyện so với học tiếng Anh. Tiếng Anh là ngồi là ”sit” nhé, tiếng Đức cũng là sitzen (động từ nguyên thể hay có đuôi en). Ơ nhưng mà setzen cũng là ngồi miễn là bạn thêm từ sich đi kèm. Tuy nhiên khi chia quá khứ thì sitzen sẽ thành haben gesessen (ban đầu tôi tưởng nó chuyển từ setzen sang) hoặc saß, còn setzen thành habe gesetzt hoặc setzten. Cả 4 cái trên chỉ là ngồi mà thôi.

Haizz, Mik viết xong đoạn này mà không dám đọc lại nữa, đau đầu quá, bạn nào tìm được Mik sai ở đâu thì gửi bình luận ở dưới nhé!

Phần 2: Vì sao bạn nên chọn tiếng Đức? Tiếng Đức phức tạp… để làm gì?

4
Bình luận

avatar
  Subscribe  
Notify of
Doãn Linh
Doãn Linh

Cảm ơn chị Mik đã viết bài nhé! Thực ra em chọn tiếng Đức làm ngôn ngữ thứ 2 được một thời gian rồi, nhưng đọc bài của chị Mik lại thấy yêu thứ tiếng khó nhằn này hơn >,<

Hien Ngoc
Hien Ngoc

Mình đọc cũng thấy rối cả lên. Nhưng chinh phục được tiếng Đức thì cũng khá thú vị nhỉ. Cảm ơn Mik.
Tiếng Việt cũng phức tạp không kém đối với người nước ngoài đâu ạ, Mik thử phân tích xem nhé.

Quay về đầu trang